UA-83376712-1

Labels

Showing posts sorted by relevance for query Thi sĩ ngô thụy miên (phần 1). Sort by date Show all posts
Showing posts sorted by relevance for query Thi sĩ ngô thụy miên (phần 1). Sort by date Show all posts

Nov 17, 2014

Tản mạn cuối năm 2014 (Ngô Thuỵ Miên)

1. Tản mạn chuyện 3 bài hát
Sau đêm nhạc "Tình Ca Ngô Thụy Miên - Một Lần Là Mãi Mãi" được tổ chức tại thành phố St Paul, Minesota, tôi đã gặp một vị khán giả còn trẻ, và anh đã có một câu hỏi cho tôi. Một câu hỏi mà tôi không ngờ đến từ một người còn khá trẻ tuổi như anh. 
"Trong 3 bài hát nhạc sĩ phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa tại Sài Gòn, Áo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không EmTuổi 13, bài nào nhạc sĩ phổ dễ dàng và hài lòng nhất về cả lời thơ lẫn ý nhạc?".
Vì phải lên xe ngay với ban tổ chức, tôi đã vội trả lời "Paris Có Gì Lạ Không Em", mà không kịp nói rõ hơn với người bạn trẻ hôm đó. Dù đã qua lâu, mong rằng hôm nay có câu trả lời ngắn, gọn cho bạn, nếu bạn có dịp đọc tới nhé.

Tháng 4 năm 1998, trong bài viết "Nguyên Sa và tình ca Ngô Thụy Miên", tôi đã viết một chút về việc phổ 3 bài thơ của thi sĩ Nguyên Sa:

Áo Lụa Hà Đông
Cá nhân tôi khi đọc bài thơ, đã chú ý ngay 4 câu: 
    Em chợt đến, chợt đi anh vẫn biết 
    Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu 
    Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau 
    Ðể anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại.
Lời thơ man mác buồn, đã vỗ về, chia xẻ tâm tư tôi ngày tháng đó. Lang thang Sàigòn một ngày nắng nhẹ, giòng nhạc lan man trong đầu óc: Rê Ðô Rê, Sol Sib Sib Rê Rê, Sol Sol La, Sol Sib Rê Rê La…, tôi đã hoàn tất phần điệp khúc được viết theo cung Rê thứ để thích hợp với hồn thơ. 
Sau đó tôi mới tìm ý nhạc cho phần đầu và cuối của bản nhạc. Đây không phải là cách thông thường phổ nhạc vào thơ, và tôi đã thử phổ phần đầu theo cung trưởng, nhưng không thành công. Cuối cùng bài hát được hoàn toàn viết theo âm giai Rê thứ.

Paris Có Gì Lạ Không Em
Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi dù trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường Paris, hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ đến một cuộc tình? Paris như một lời kêu gọi, một nơi chốn tìm về cõi tình yêu. Từ những mộng ước đó, bản nhạc thứ hai tôi phổ từ thơ Nguyên Sa đã thành hình.
Có những bài thơ khi muốn phổ nhạc, người nhạc sĩ phải tìm điệu nhạc để chuyên chở ý thơ, hoặc phải thay đổi lời thơ để nhập vào ý nhạc. Riêng "Paris Có Gì Lạ Không Em" khi đọc lên, tôi đã nghe phảng phất tiếng phong cầm rộn rã của nhịp 3 luân vũ. Trên phím dương cầm, giòng nhạc dồn dập, chạy dài trên 10 đầu ngón tay, tôi đã hoàn tất phổ bài thơ trong một ngày đầu xuân năm 1971. Cung Ðô trưởng mở đầu nhịp nhàng:
    Paris có gì lạ không em 
    Mai anh về, em có còn ngoan.

Tôi thích nhất câu Là áo sương mù hay áo em
từ cung Ðô trưởng đổi chuyển qua La thứ để vào phần điệp khúc:
    Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay 
    Tóc em anh sẽ gọi là mây.

Khi hát bài này lần đầu tiên, Hoàng Phúc, bạn tôi, đã nói bài này phải để chị Thái Thanh hát mới được. Ðúng như lời Phúc nói, sau này chị Thái Thanh đã thu bài này trong cuốn băng Tình ca Ngô Thụy Miên phát hành ở Sài Gòn.

Còn gì hạnh phúc hay sung sướng hơn khi mình bắt được cái ý thơ, nắm được cái tình thơ, để dòng nhạc cuồn cuộn chẩy dài trong trí tưởng, qua những ngón tay trên phím đàn? Bài hát được viết đúng với tâm ý của tôi. Bắt đầu với cung Đô trưởng, và phần điệp khúc được chuyển qua La thứ cho những lời yêu thương, gắn bó, nhắn nhủ của nhà thơ đến với người tình.

Tuổi 13
Sau Áo Lụa Hà ÐôngParis Có Gì Lạ Không Em, tôi đã phổ tiếp Tuổi 13.
Cũng như "Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông", "Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường" là 2 câu thơ được bọn trẻ chúng tôi thuộc nằm lòng ngày đó. Tôi yêu cái ý thơ hồn nhiên, lời thơ trong sáng. Ðọc bài thơ thấy hồn lâng lâng, như đang nhớ nhung, hẹn hò, đang đợi chờ, mơ ước.
Hai câu thơ này và 2 câu tiếp của bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người theo ý tôi phổ thơ độc đáo và hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam, dùng trong bài hát rất nổi tiếng Mầu Kỷ Niệm của ông viết trong thập niên 60. Ông viết Mầu Kỷ Niệm theo âm giai thứ và chuyển qua cung trưởng trước khi chấm dứt bài hát. Bài Tuổi 13, tôi dùng âm giai trưởng để diễn tả cái nhí nhảnh, non trẻ, dại khờ nhưng dễ thương của cô bé tuổi 13 của nhà thơ.

Tôi luôn mơ về Paris của thi sĩ Nguyên Sa, luôn yêu cái nét nhạc trong sáng, dịu dàng, gợi cảm trên nền nhạc âm giai trưởng. Như vậy bài Paris Có Gì Lạ Không Em đã là bài có lời thơ, ý nhạc tôi yêu thích nhất đấy, người bạn trẻ.

2. Tản mạn chuyện trưởng thứ
Là một người viết tình ca, trưởng thành qua hai dòng nhạc cổ điển Tây Phương và tình ca Việt Nam. Ngay từ những ngày tháng đầu tiên sáng tác, tôi đã tự tin là mình sẽ có thể tránh được những ảnh hưởng của hai dòng nhạc này và tạo cho mình một nét nhạc riêng, một hướng đi mới. Nhưng nói thì dễ, làm rất khó, vì qua bao năm tháng học, đàn, nghe những nét nhạc, lời ca này đã thấm sâu vào tâm hồn, vào trí tưởng. Và như thế đó, các ca khúc đầu tay dưới bút hiệu Đông Quân của tôi đều mang đậm dấu ấn của hai dòng nhạc này.
Bài đầu tiên Người Tình Mắt Xanh mang nhiều nét nhạc cổ điển, cầu kỳ với những nốt, quãng khó hát, thích hợp cho dàn nhạc hoà tấu hơn là ca khúc, và bài thứ hai, Bến Thương nghe đầy âm hưởng Tiền Chiến, với những lời ca ướt át mộng mơ, chia ly, nhung nhớ một thời.

Một chiều chia ly bến thương lộng giổ
Nhìn người ra đi tóc vương mầu nhớ
Tình yêu dâng kín mắt biếc mong chờ
Chờ người bến thương thương nhớ từ đây.

Ngày mai khi mộng mơ đến người
Khi tình yêu nhắn lời xin gió gửi dùm gió ơi
Mộng ước ngày đó chúng mình chung đôi
Thành phố thôi mầu chia phôi
Ái ân ta cùng chung vui.

Khi bắt đầu giới thiệu những tình khúc Ngô Thụy Miên  tại các trung tâm văn hoá, giảng đường đại học, nhóm bạn sinh hoạt chung và tôi đã quyết định cất bỏ những sáng tác này. Như vậy, Chiều Nay Không Có Em là bắt đầu cho một hướng đi mới, bắt đầu cho một cánh cửa âm nhạc mới mở ra đón khách tri âm từ bao năm tháng qua.

Một ý kiến khá phổ biến của người nghe là nhạc tình chúng ta là những chuỗi nốt nhạc buồn lê thê với những ca từ bi lụy, sầu thảm của những cuộc tình buồn. Một ca khúc hay, thành công và trở thành top hit thường được viết bằng âm giai thứ dễ nghe, với lời ca dễ hiểu, dễ hát.
Với tôi, khi bắt đầu viết nhạc, tôi không cho là thế vì dòng nhạc Đoàn Chuẩn đã đến với tôi và xoá tan đi những định kiến nói trên. Những Tình Nghệ Sĩ, Lá Thư, Chuyển Bến, Thu Quyến Rũ, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Đường Về Việt Bắc, Tà Áo Xanh,... đã chẳng là những bài tình ca bất tử theo năm tháng nổi trôi của vận mệnh đất nước? Những ca khúc này đã chẳng được người nhạc sĩ tài hoa Đoàn Chuẩn đan trải những nốt nhạc, những thang bậc tuyệt vời theo âm giai trưởng?
Nhưng cũng không thể phủ nhận một điều là rất nhiều, rất nhiều ca khúc được thính giả yêu thích trải dài qua hơn 70 năm tân nhạc Việt Nam đã được viết theo âm giai thứ. Và hai ca khúc Nhạc Sầu Tương Tư của nhạc sĩ Hoàng Trọng, cũng như Buồn Tàn Thu của nhạc sĩ Văn Cao đã ẩn hiện mãi mãi trong trái tim tôi kể từ khi bắt đầu biết yêu thương và nhung nhớ, cũng được viết theo âm giai thứ.

Trong một cuộc nói chuyện gần đây, tôi có nhắc lại một vài ý kiến riêng của mình về hai nhạc sĩ đầu đàn, Văn Cao và Đoàn Chuẩn & Từ Linh:
"Nếu Văn Cao là người nhạc sĩ tôi quí trọng nhất, không phải chỉ về những đóng góp của ông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, mà còn về tác phong, đời sống cá nhân ông, thì Ðoàn Chuẩn là người tôi yêu thích nhất với những tình khúc bất hủ, và những đóng góp lớn lao của ông vào việc tạo dựng một dòng nhạc tình tự, lãng mạn nhất của nền tân nhạc Việt Nam chúng ta. Qua Ðoàn Chuẩn, tôi đã yêu mùa thu, đã sáng tác nhiều nhạc phẩm về mùa thu, và vẫn mơ một ngày nào đó sẽ có dịp trở về thăm mùa Thu của ông. Trong cuộc đời sinh hoạt văn nghệ của tôi, có lẽ điều đáng tiếc nhất vẫn là không có dịp, đúng hơn là không còn dịp được gặp gỡ hai ông, để được ngỏ đôi lời cám ơn đến hai người mà tôi nghĩ là đã mở cánh cửa âm nhạc cho cá nhân tôi, và cho nhiều người sáng tác khác sau này nữa."
Tôi yêu dòng nhạc trong sáng, nhẹ nhàng, hài hoà với những lời ca sang trọng, tuyệt đẹp diễn tả chuyện tình mùa thu bên trời của Đoàn Chuẩn & Từ Linh. Tôi nghĩ trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, không có một nhạc sĩ nào viết đều tay với những sáng tác để đời như hai ông.

Rồi có một lần được phỏng vấn, tôi đã nói:
"Tôi vẫn nghĩ thời gian ở quê hương (trước 75) với những thân yêu quanh mình, với những lụa là, mưa nắng Sàigòn, những quán hàng, con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều,… đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở đây, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn. Những thành phố, nhà cửa thật huy hoàng, thật to lớn, nhưng cũng thật lạnh lẽo, cô đơn. Ngày tháng bên này đã để lại trong tôi những nét nhạc muộn phiền, ghi lại những lời ca mệt mỏi, buồn bã của cuộc sống tạm dung, của một phần đời tỵ nạn."

Vâng, hãy nghe lại một vài tình khúc tôi viết trước 75. Bắt đầu là Chiều Nay Không Có Em, rồi thì Mùa Thu Cho Em, Niệm Khúc Cuối, hai trong số những ca khúc tôi yêu thích nhất - Từ Giọng Hát Em, Mắt Biếc - đều được viết theo âm giai trưởng. Và ngay tình khúc duy nhất tôi viết ở Sài Gòn sau 75, Em Còn Nhớ Mùa Xuân, cũng được viết theo tông trưởng. 
Năm 1980, tình khúc đầu tiên tôi viết ở hải ngoại là Bản Tình Ca Cho Em, rồi một thời gian sau là Riêng Một Góc Trời, Một Đời Quên Lãng, Nỗi Đau Muộn Màng, Biết Bao Giờ Trở Lại,... đều được viết theo âm giai thứ! 

Vậy có phải tùy theo thời gian, không gian, và cõi lòng, người nhạc sĩ đã dùng tim óc để viết, để chia sẻ tâm tình của mình với người nghe? Như vậy trưởng-thứ có gì là̀ quan trọng? Sự thành công của một ca khúc chính là sự tồn tại của ca khúc đó sau những năm tháng, những thử thách của đời sống, và khi hát lên đã gợi nhớ được một hình ảnh, kỷ niệm, hay dấu tích của một thời, hay đã mở ra được một cánh cửa mới, một khung trời riêng cho người thưởng ngoạn.
3. Tản mạn chuyện Tóc Xưa
Hình như ở tuổi 60-70, người ta thường hay nhắc đến, hoặc dùng chữ "Xưa" như mắt xưa, áo xưa, dáng xưa, người xưa,... để kể lại một câu chuyện, để nhắc lại một ngày tháng nào? Có phải "Xưa" đó luôn là những kỷ niệm đẹp không hề phai tàn qua năm tháng, là những nỗi nhớ nhung chẳng hề quên lãng qua bao thăng trầm, đổi thay của cuộc sống?
Có lẽ trong trái tim của tất cả chúng ta , "Xưa" cũng chính là nỗi mất mát, niềm tuyệt vọng nào đó đã thoáng qua nhưng mãi ở lại vĩnh viễn trong ký ức sâu thẳm nhất của đời mình.
Trong tâm tình đó, xin chia xẻ với người nghe hai ca khúc được viết theo cung trưởng và thứ tôi đã phổ từ cùng một bài thơ của nhà thơ Dương Văn Thiệt bên trời Âu (bạn của một đồng môn Nguyễn Trãi Lê Văn Thu) Tóc Xưa với tiếng hát và đàn của nữ ca sĩ Thanh Tuyền cùng pps-video được thực hiện bởi Ngọc Phú, New Jersey USA.


Ngô Thụy Miên 10/2014

Oct 30, 2011

Con đường âm-nhạc tôi đi (1) - Thuỵ Uyên


Tôi sinh-trưởng và lớn lên trong một gia-đình có thể gọi là nghệ-sĩ.
Lúc còn trẻ, ở ngoài Bắc, Bố rất thích thổi sáo. Tôi tiếc mãi không còn giữ được tấm hình Bố mặc quần tắm, chụp đứng bên cạnh bờ suối êm ả, trên môi ngậm ống sáo. Hỏi lúc ấy, Bố đang thổi bài gì thế, Bố trả lời : " Chỉ là một âm-điệu Bố thổi theo nguồn cảm-hứng thôi con ạ, không là một bài nhạc gì cả. "
Mẹ tôi, tuy không thể gọi là một ca-sĩ, nhưng Mẹ hay thường cùng với một nhóm ca nhạc-sĩ khác trong làng, tham-gia phần văn-nghệ trong những buổi tiệc hội hè, và thỉnh thoảng hát cho đài phát-thanh.
Người em gái của Mẹ, dì Minh Đỗ, là một danh-ca thời ấy. Dì đi hát thường xuyên và thâu-thanh trong những chương-trình ca-nhạc trên đài phát-thanh Hà-Nội. Một lần nữa, tôi lại tiếc nuối mãi đã đánh mất đi một đĩa hát của Dì, nhưng nhớ mãi giọng hát thánh thót, trong vắt qua những bài Ru Con, Qua cầu gió bay, Trống cơm, v.v…

Vào trong Nam chưa được bao lâu thì tôi ra đời. Bố đeo đuổi ngành điện-ảnh Bố hằng mơ ước. Nhà tuy nghèo, ngoài lo cho các con theo học chữ, Bố Mẹ không ngại khổ cực lo cho chúng tôi lần lượt theo học nhạc tại trường Quốc-Gia Âm-Nhạc.
Người anh cả, anh Châu Nhi, học trung-hồ-cầm (violoncelle), và sau đó, chuyển sang nhạc trẻ thời bấy giờ, trở thành tay lead guitar, cùng với một số nhạc-sĩ khác đi trình-diễn khắp nơi trong nước.
Người anh thứ nhì, anh Châu Bào, tốt-nghiệp dương-cầm, đỗ cao, được chính-phủ Mỹ cấp học bổng đi du-học nước ngoài.
Người chị kế, chị Thanh Xâm, cũng theo học và tốt-nghiệp dương-cầm.
Kế tiếp là chị Thanh Vân, theo gót anh Bào và chị Xâm, cũng tốt nghiệp dương-cầm.
Hiện nay, chị là người bạn đời yêu quí của nhạc-sĩ Ngô Thụy Miên.

Rồi đến tôi. Nghe mãi anh Bào, chị Xâm và chị Vân thay phiên nhau tập những bài nhạc của Chopin, Mozart, Beethoven, tôi đã thuộc lòng những bài này như cháo. Tôi thiết nghĩ, đến lượt tôi, chắc Bố cũng muốn tôi theo học dương-cầm.
Nhưng khi Bố bảo tôi : " Để đổi khác đi tí, con học vĩ-cầm nhé ? "
Tôi chưa biết vĩ-cầm là gì, nhưng mặc, dương-cầm hay vĩ-cầm, tôi chưa muốn học. Tôi không nhớ rõ các anh chị tôi đã phải theo học nhạc năm nào, nhưng tôi thì lúc ấy mới lên 7, miệng còn hôi sữa, tay còn mải ôm con búp bê chột mắt và chơi với nó suốt ngày, tôi lắc đầu quầy quậy. Viết đến đây, Aigoo ! (nhái tiếng Đại-Hàn), tôi nhăn nhăn mặt, mường-tượng đến những trận đòn Bố quất ê cả mông.
Và rồi tôi cũng phải học nhạc. Hai năm đầu, trước khi được nhận vào trường, Bố chịu khó chở tôi mỗi tuần đến nhà Thầy Nguyễn Khắc Cung học riêng trước. Eo ôi, sao mà kẹp cây đàn vĩ-cầm vào cổ, khó và khổ cực thế ! Cần cổ cứ thế mà đỏ ửng lên, da cổ chỗ ấy chai đen lại, trông xấu quá. Ở nhà tập đàn, kéo ỉ o không ra tiếng được, thật nản vô cùng.

Năm tôi lên 9, khi tôi thi đậu vào trường, các thầy cho tôi nhẩy lớp Đệ Nhất, vào ngay lớp Đệ Nhị. Năm sau, thay vì vào Đệ Tam và sau đó Đệ Tứ, tôi nhẩy thẳng vào Sơ-Đẳng, rồi Trung-Đẳng, rồi Cao-Đẳng. Trong suốt 4 năm này, một tuần 3 lần, tôi học nhạc-lý, nhạc-sử và môn chính là vĩ-cầm với Thầy Cung. Ngoài ra, một tháng một lần, tôi học trau-dồi thêm với thầy Phiệt.
Và, liên tục trong 4 năm, cứ đến cuối năm vào mùa thi, tôi lại sốt nặng. Bố Mẹ thật lo, cứ chuẩn bị sẵn thuốc men cho tôi uống trước khi đi. Các Thầy quen đến nỗi, khi Bố Mẹ chở tôi đến trường thi, họ đã hỏi Bố Mẹ "Tuyền nó lại lên cơn sốt không ?" và luôn luôn câu trả lời là « Có ».


Năm cuối cùng đi thi, tuổi vừa tròn 13, tôi sốt nặng hơn tất cả 3 năm trước. Tôi nhớ mãi, đứng trên sân khấu trả bài những bài thi vĩ-cầm, mồ hôi tôi vã ra như tắm, mặt đỏ ửng lên vì cơn sốt. Vào lớp thi nhạc-lý và nhạc-sử, các thầy bắt tôi ngồi riêng ở cuối lớp, xa hẳn các thí-sinh khác, sợ họ lây tôi.


Tôi tốt-nghiệp trường nhạc, theo học thêm 3 năm hoà-âm, và gia-nhập vào những ban nhạc hoà-tấu nhạc cổ-điển của trường, qua sự điều-khiển của thầy Phụng, thầy Phiệt, thầy Cung và thầy Toàn.




Rồi đến thằng em tôi, nó không chịu học nhạc. Nó út, nên Bố chiều, không bắt ép như các anh chị và tôi. Ấy thế mà bây giờ, khi nghe nó đàn dương-cầm những bài nhạc cổ-điển, tôi không thể nào ngờ là nó đàn giỏi và hay như thế, trong khi nó không bước vào trường nhạc một bước. Nó tự học lấy, tìm tòi trên mạng những sách vở (bây giờ rất khó kiếm để mua). Chưa hết, còn những bài nhạc trong phim bộ Đại-Hàn nữa chứ, chỉ nghe qua trong khi xem phim, nó đã dạo lại mấy bài nhạc đó không sai một nốt. Anh Bào thường hay nói, nếu chịu đi học cẩn thận, nó đã có thể nổi bật và giỏi hơn anh ấy nhiều.
Người cuối cùng trong gia-đình thân-cận nhất của tôi là nam ca-sĩ trẻ Hoàng Nam, đứa con trai lớn của chị Xâm.

Về bên gia-đình họ hàng bên Mẹ, phải kể thêm :
Chị Kim Tước trong ban Tam ca Mộc Lan, Châu Hà và Kim Tước. Mẹ chị Kim Tước là chị ruột của Mẹ tôi.
Anh Đỗ Đình Phương, tay tây-ban-cầm nhạc cổ-điển trứ-danh là anh họ tôi. Ông Ngoại tôi là em ruột ông Nội anh Phương.
Ông Ngoại cũng là anh ruột Ông Nội nam ca-sĩ Mạnh Đình.
Và nhạc sĩ Vũ Thành, tác giả bài hát bất hủ " Giấc mơ hồi hương " là thân-phụ của một cô em họ tôi.
Ngoài ra còn một vài cậu của tôi cũng vang bóng một thời như cậu Thiều và cậu Liêu (Lê Đô) với tiếng kèn clarinette.
Đấy, đại-khái gia-đình nghệ-sĩ của tôi đấy. Thế mà bảo rằng, tôi không có máu nghệ-sĩ trong người làm sao được ? 

Không hiểu sao, tuy theo học đến nơi đến chốn về nhạc cổ-điển tây-phương, tôi lại mê say loại nhạc trẻ thời-trang. Tôi học và ôn bài cho trường chữ ở nhà, mà lúc nào cũng kè kè bên cạnh chiếc radio nhỏ xíu để nghe nhạc. Có lẽ vì theo học trường tây, ảnh-hưởng lớn nhất với tôi lúc bấy giờ là nhạc Pháp. Những bài hát của Hervé, Christophe, Adamo, Enrico Macias, Sylvie, Françoise, France Gall, v.v. tôi thuộc từng lời từng nốt một.
Danh-ca thần-tượng số một của tôi là Hervé Vilard với bài J’ai Envie.
Một dạo ở Saigon, tôi nhớ có đọc thoang thoáng ở đâu rằng Hervé tự-tử. Tin vịt hay tin thật, không cần biết, tôi chỉ biết tôi đã khóc sướt mướt, còn viết một lá thơ đến fans club của Hervé để than thở.
Rồi phong-trào nhạc Anh tràn đến với âm-điệu mới mẻ của The Beatles, Rolling Stones, giọng hát trầm ấm của Cliff Richard qua tiếng đàn Fender ngọt ngào của The Shadows, ôi chao ! Mê thì thôi !
Tôi tốn bao nhiêu tiền xem đi xem lại phim Pop Gear và Just For You, chỉ để nghe The Animals hát bài The House of the rising sun và Don't let me be misunderstood, ngắm khuôn mặt dễ thương của Peter Noone của Herman's Hermits với chiếc răng khểnh.
Rồi đến phim Woodstock, tôi lại tốn thêm một số tiền nữa, xem không biết bao nhiêu lần.
Mê nhất là Joe Cocker với bài With a little help from my friend, Santana với Soul Sacrifice, The Who với Feel me, và chính bài Woodstock qua sự trình-diễn của Crosby, Stills, Nash and Young.

Thụy Uyên, tháng 10, 2011
(xin đón đọc Phần 2)