ARTSHARE

Oct 21, 2016

Con Rồng Cháu Tiên (9) : Tự-chủ thời-đại / Nhà Trần (Phần 1)



0- Đại-cương

1- Thượng-cổ thời-đại (2879-111 trước Tây-lịch)

2- Bắc thuộc thời đại  (111 trước Tây-lịch-931 sau Tây-lịch)

3- Thời đại tự-chủ
3.1 Nhà Ngô (939-965)
3.2 Nhà Đinh (968-980)
3.3 Nhà Tiền Lê (980-1009)
3.4 Nhà Lý (1010-1225)

3.5 Nhà Trần (1225-1400)
Nhà Lý phải nhường ngôi lại cho nhà Trần, chấm dứt một triều đại 215 năm.

Trần Thủ Độ
Tháng chạp năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Trần Cảnh lên làm vua, tức là Trần Thái-Tông, phong cho Trần thủ Độ làm Thái-sư Thống-quốc hành-quân chinh-thảo-sự. Bấy giờ vua Thái-tông mới có 8 tuổi, việc gì cũng do ở Trần thủ Độ cả.
Có thể nói ông là nhân vật trụ cột, là người thực hiện thành công ý tưởng đoạt ngôi vua triều Lý về tay triều Trần mà Trần Tự Khánh trước đây thường ấp ủ nhưng không thực hiện được vì ông mất sớm.

(Khu lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ tại làng Ngừ, xã Liên Hiệp. Hưng Hà, Thái Bình.)

Thủ Độ tuy là một người không có học-vấn nhưng là một tay gian-hùng, chủ ý gây dựng cơ-nghiệp nhà Trần cho bền-chặt, cho nên dẫu việc tàn-bạo đến đâu, cũng làm cho được:
Lý Huệ-tông tuy đã xuất gia đi ở chùa rồi nhưng Thủ Độ vẫn bức tử ông để diệt hoạ.
Còn Thái-hậu là Trần-thị thì giáng xuống làm Thiên-cực công-chúa để Trần thủ Độ lấy làm vợ (tuy rằng hai người là chị em họ). Bao nhiêu những cung-nhân nhà Lý thì đưa gả cho những Tù-trưởng các mường.
Thủ Độ đã hại Huệ-tông rồi, lại trừ nốt các tôn-thất nhà Lý.
Không những thế, lại muốn không còn ai nhớ đến họ Lý nữa, mới nhân vì tổ nhà Trần tên là Lý, bắt trong nước ai là họ Lý đều phải cải là họ Nguyễn.
(Hoá ra vậy. Trước giờ tôi cứ thắc-mắc tại sao họ Lý làm vua lâu đời nhất mà bây giờ lại là thiểu số (0.5%) trong khi họ Nguyễn lại chiếm đa-số (38%), so với họ Trần (12%) và họ Lê (9%))

Thủ Độ chỉ lo làm thế nào cho ngôi nhà Trần được vững-bền, cho nên không những là tàn ác với nhà Lý mà thôi, đến luân-thường ở trong nhà, cũng làm loạn cả. Chiêu-thánh Hoàng-hậu lấy Thái-tông đã được 12 năm mà vẫn chưa có con, Thủ Độ bắt Thái-tông bỏ đi và giáng xuống làm công-chúa, rồi lấy chị dâu (là vợ của anh mình -Trần Liễu- và cũng là chị của vợ mình) làm Hoàng-hậu, bởi vì người chị đã có thai được 3 tháng, khiến Trần Liễu tức giận, đem quân làm loạn nhưng đánh không lại nên đành nuốt hận xin hàng.
Loạn luân như thế, thì tự thượng-cổ mới có là một.

Thủ Độ là người rất gian-ác đối với nhà Lý, nhưng ngược lại, ông rất thanh liêm, trung trực. Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, quả quyết theo ý chí của mình, ít khi để cho tình cảm sai khiến. Có những mẩu chuyện như:
Linh từ quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Thủ Độ: " Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế ".
Thủ Độ tức giận, sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: " Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa ". Lấy vàng lụa thưởng rồi cho về.
Một lần khác, Thủ Độ duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người làm câu đương. Thủ Độ gật đầu, rồi khi xét đến trường-hợp đó, Thủ Độ nói:
"Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác".
Người đó kêu van mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa. 


Đánh giá về ông xưa nay vẫn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, nhưng không thể phủ nhận được công lao to lớn của một đại-thần đối với vương triều Trần và nước Đại Việt. 

Cuộc đời ông là cuộc đời của một con người tài ba, thao lược cả về chính trị, quân sự và kinh tế,... Một tay cáng-đán bao nhiêu trọng-sự, giúp bình-phục được giặc-giã trong nước và chống chỏi xâm lấn của ngoại bang, chỉnh-đốn lại mọi việc, với quá trình khôi phục và phát triển kinh tế xã hội Việt Nam từ đống tro tàn của triều Lý vào thế kỷ XIII, làm cho nước Nam ta bấy giờ được cường thịnh,.
Ông đã tiến hành cho phép chuyển công hữu thành tư hữu, bán ruộng cho những người nông dân không tấc đất cắm dùi. Ông còn củng cố đê điều, đắp đê ngăn nước mặn, đào sông khai thông đường thuỷ, bộ. Không chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà ông còn chủ trương phát triển Nho học, cho xây Quốc Tử Giám, đẩy mạnh việc thi cử để tuyển chọn hiền tài cho đất nước…

(Theo thiển ý tôi, chúng ta có thể so sánh ông với Tào Tháo. Hai nhân-vật này có nhiều điểm tương-đồng: gian-hùng (giỏi nhưng gian ác), đa nghi, thủ đoạn, tính toán và hành-động kỹ lưỡng… Đặc-biệt nhất, hai người này nắm hết quyền-hành nhưng không muốn lên ngôi vua. Điểm này nói lên cá tính phức-tạp, xuất chúng của hai ông.)



3.5.1 Trần Thái Tông (1225-1258)
Niên-hiệu: Kiến-trung ,Thiên-ứng chính-bình, Nguyên-phong

Việc Đánh Dẹp Giặc Giã
Cuối đời nhà Lý suy yếu, trong nước chỗ nào cũng có giặc-giã. Ở mạn Quốc-oai thì có giặc Mường làm loạn, ở Hồng-châu thì có Đoàn Thượng chiếm giữ đất Đường hào, tự xưng làm vua, ở Bắc-giang thì có Nguyễn Nộn độc-lập xưng vương ở làng Phù-đổng. 
Cướp ngôi nhà Lý rồi, Trần thủ Độ mới đem quân đi đánh dẹp. Trước lên bình giặc Mường ở Quốc-oai, sau về đánh bọn Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn. Nhưng thế-lực hai người ấy mạnh lắm, Trần thủ  Độ đánh không lại, bèn chia đất cho hai người làm vương để giảng-hòa. Để rồi vấn đề tự giải-quyết sau khi Nguyễn Nộn thắng Đoàn Thượng rồi chết mấy tháng sau.
(Trần thủ Độ đúng là người
đa mưu túc trí. Khi đánh dẹp các thế lực chống đối, ông thấy thắng thì đánh, thấy cần hòa hoãn để đợi thời cơ thì tiến hành đàm phán.)

Binh Chế
Từ khi Thái-tông lên ngôi làm vua thì việc binh-lính một ngày một chỉnh-đốn thêm. Bao nhiêu những người dân-tráng trong nước  đều phải đi lính cả. Các quân-vương ai cũng được quyền mộ tập quân-lính. Vì cớ ấy cho nên về sau người Mông-cổ sang đánh, nước Nam ta có hơn 20 vạn quân để chống với quân nghịch.

Việc Đánh Chiêm Thành
Nước Chiêm-Thành sang cống-tiến, nhưng vẫn thường sang cướp phá, và cứ đòi lại đất cũ. Thái-tông lấy làm tức giận, năm nhâm-tí (1252) ngài ngự-giá đi đánh, bắt được vương-phi nước Chiêm tên là Bố-gia-la và quân dân nước ấy rất nhiều.

Quân Mông Cổ Xâm Phạm Đất An Nam
Trong khi  nhà Lý mất ngôi, nhà Trần lên làm vua ở An-nam, thì nhà Tống bên Tàu bị người Mông-cổ đánh phá.
Người Mông-cổ hung tợn, mà lại có tính hiếu chiến, người nào cưỡi ngựa cũng giỏi, và bắn tên không ai bằng, cho nên Thiết-mộc-chân (Témoudjine) tức là Thành-cát-tư-hãn (Gengis khan), mới chiếm giữ được cả vùng Trung-Á, cùng đất Ba- tư, sang đến phía đông-bắc Âu-la-ba (Âu châu). Sau quân Mông-cổ lại lấy được nước Tây-hạ, phía tây nước bắc Tàu, dứt được nước Kim và tràn sang đến nước Triều-tiên (Cao-ly).
Đại-hãn thứ 5, Hốt-tất-liệt (Kublai) chiếm nhà Tống. Từ đó cả nước Tàu thuộc về quyền cai-trị của Mông-cổ .

Trước đó,  tướng Mông-cổ là Ngột-lương-hợp-thai (Wouleangotai) sai sứ sang bảo vua Trần-thái-tông về thần-phục Mông-cổ. Thái-tông không những không chịu, lại bắt giam sứ thần, rồi sai Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn (con trai Trần Liễu và cháu gọi vua là chú) đem binh lên giữ ở phía Bắc.
Trần quốc Tuấn ít quân đánh không nổi, Quân Mông-cổ đánh chiếm dần vào đến thành Thăng-long.
Bấy giờ thế nguy, Thái-tông đến hỏi Thái-sư Trần thủ Độ. Thủ Độ nói rằng: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin Bệ-hạ đừng lo!". Thái-tông nghe thấy Thủ Độ nói cứng-cỏi như thế, trong bụng mới yên.

Được ít lâu, quân Mông-cổ ở nước Nam không quen thủy-thổ xem ra bộ mỏi-mệt, Thái-tông mới tiến binh lên đánh. Quân Mông-cổ thua to, rút về Vân-nam, lại bị dân binh chặn đánh, thua to, phải quay về, đi đường mỏi-mệt, đến đâu cũng không cướp-phá gì cả, cho nên người ta gọi là giặc Phật.
Nhưng chẳng bao lâu vua Mông-cổ dứt được nhà Tống, lấy được nước Tàu, rồi có ý muốn bắt vua nước Nam ta sang chầu ở Bắc-kinh, bởi vậy lại sai sứ sang đòi lệ cống.

Năm1258, Thái-tông nhường ngôi cho Thái-tử Trần Hoảng để dạy-bảo mọi việc về cách trị nước, và đề phòng ngày sau anh em không tranh nhau. Triều-đình tôn Thái-tông lên làm Thái-thượng-hoàng để cùng coi việc nước.
Thái-tông trị-vì được 33 năm, làm Thái- thượng-hoàng được 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.


3.5.2 Trần Thánh Tông (1258-1278)
Thái-tử Hoảng lên ngôi, tức là vua Thánh-tông, đổi niên-hiệu là Thiệu-long.
Thánh-tông là ông vua nhân-từ trung-hậu ở với anh em họ hàng rất là tử-tế.
Còn việc nước thì thật ngài có lòng lo giữ cho dân được yên trị. Trong 21 năm ngài làm vua không có giặc-giã gì cả. 
Thánh-tông lại bắt các vương-hầu, phò-mã phải chiêu-tập những người nghèo-đói lưu-lạc để khai-khẩn hoang điền làm trang hộ. Trang-điền có từ đấy.

Đời bấy giờ Lê văn Hưu làm xong bộ Đại-Việt sử thành 30 quyển, chép từ Triệu Võ-vương đến Lý Chiêu-hoàng. Bộ sử này khởi đầu làm từ Trần Thái-tông đến năm nhâm-thân (1272) đời Thánh-tông mới xong. Nước Nam ta có quốc-sử khởi đầu từ đấy.

Sự giao-thiệp với Mông-Cổ
Nước tuy được yên, song việc giao-thiệp với Tàu một ngày một khó thêm. Đời bấy giờ Mông-cổ đã đánh được nhà Tống rồi, chỉ chực lấy nước An-nam, nhưng vì trước tướng Mông-cổ đã đánh thua một trận, vả trong nước Tàu vẫn chưa được yên, cho nên vua Mông-cổ muốn dụng kế dụ vua An-nam sang hàng-phục, để khỏi dùng can-qua. Vậy cứ vài năm lại cho sứ sang sách-nhiễu điều nọ điều kia, và dụ vua An-nam sang chầu, nhưng vua ta cứ nay lần mai lữa, không chịu đi.

Thánh-tông bề ngoài tuy vẫn chịu thần-phục, nhưng trong bụng cũng biết rằng Mông-cổ có ý đánh lấy nước mình, cho nên cứ tu binh dụng võ để phòng có ngày tranh chiến. Vậy tuyển đinh-tráng các lộ làm lính, phân quân-ngũ ra làm quân và đô, bắt phải luyện tập luôn.
Năm 1278, Thánh-tông nhường ngôi cho Thái- tử Khâm, rồi về ở Thiên-trường làm Thái-thượng-hoàng.

Thánh-tông trị vì được 21 năm, làm Thái-thượng-hoàng được 13 năm, thọ 51 tuổi.


3.5.3 Trần Nhân Tông (1279-1293)
Thái-tử Trần Khâm lên làm vua,  tức là vua Nhân-tông.

Lúc bấy giờ sứ nhà Nguyên đi lại hạch điều này, trách điều nọ, triều-đình cũng có lắm việc bối-rối. Nhưng nhờ có Thánh-tông thượng-hoàng còn coi mọi việc và các quan triều-đình nhiều người có tài-trí, vua Nhân-tông lại là ông vua thông-minh, quả-quyết, mà người trong nước thì từ vua quan cho chí dân-sự đều một lòng cả, cho nên từ năm giáp-thân (1284) đến năm mậu-tí (1288) hai lần quân Mông-cổ sang đánh rồi không làm gì được.

Việc Văn Học cũng hưng-thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng-đạo-vương, thơ của ông Trần quang Khải và của ông Phạm ngũ Lão thì biết là văn-chương đời bấy giờ có khí-lực mạnh-mẽ lắm. Lại có quan Hình-bộ Thượng-thư là ông Nguyễn Thuyên khởi đầu dùng chữ Nôm mà làm thơ-phú.

(Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Chùa Phúc Lâm)

Nhắc đến các vị Thiền sư đời Trần, chúng ta thường nghe nhắc đến Trần Thái Tông là tác giả Khóa Hư Lục, bản văn Thiền đồ sộ nhất đời Trần; Trần Nhân Tông là người sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm, phái Thiền độc lập của Việt Nam.
Trần Thánh Tông thì cả
 cuộc đời ông chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật, để nỗi sử gia Ngô Sĩ Liên trong cái nhìn Nho học cứng cỏi nhất phải viết: “Song ham mê đạo tam muội, kê cứu đạo Nhất thừa, không phải là đạo trị nước giỏi của đế vương”.
(
 Trần Thánh Tông, Một ngôi sao sáng của thiền-học đời Trần, Nguyễn Thế Đăng)



Năm quí-tị (1293) Nhân-tông truyền ngôi cho Thái-tử Thuyên, rồi về Thiên-trường làm Thái-thượng-hoàng.
Nhân-tông trị-vì được 14 năm, nhường ngôi được 13 năm, thọ 51 tuổi.


Xin đóc đọc số sau: Trang sử oai hùng của dân-tộc hai lần đại thắng quân Nguyên



Yên Hà, tháng 10, 2016
Tài-liệu nguồn :
- Việt-Nam Sử-Lược (1919) : Lệ Thần Trần Trọng Kim
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1697)
Trần Thủ Độ và khoảng trống phía sau cuộc đời ông : Đặng Hùng, Hội viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam




Hai bên bờ đại-dương (3)

Chương 3:
Người nghệ-sĩ và cây đàn

Thanh xuất-thân từ một gia-đình nghệ-sĩ, chung quanh Thanh, những người có chút tiếng tăm trong làng văn-nghệ không phải là hiếm. Riêng cô đã được học nhạc từ bé và sau đó cô có bước vào sinh-hoạt đàn hát chuyên-nghiệp.
Lúc sang Mỹ, cô tiếp tục đi hát một thời-gian ngắn trước khi chuyển sang một công việc vững chắc hơn. Sau đó, có dịp tiếp-xúc với một cộng-đồng Việt-Nam gần chỗ cô ở, cô nhận lời chỉ dẫn cho những người bạn trẻ chơi nhạc và thỉnh thoảng tham gia chút ít trong những sinh-hoạt văn-nghệ như Tết nguyên-đán hay những buổi họp mặt thân-mật. Nhưng nói chung thì với nếp sống của cô về sau này, Thanh không còn chú tâm vào địa hạt này như trước nữa.

Sáng thứ bảy này, Thanh lái xe xuống vùng Washington D.C. chơi với cặp vợ chồng Hưng-Trang. Hưng thì đã học chung với Thanh thuở trung-học, còn đối với Trang thì hai gia-đình quen nhau đã lâu nên rất thân và thỉnh thoảng, Thanh lại lái xuống chơi cuối tuần dưới này.
Nhớ lại lần đầu tiên gặp lại Hưng-Trang, Thanh lại phải phì cười. Lần ấy, Hưng-Trang mở một buổi họp mặt với bạn bè để tiếp Thanh. Ăn tối xong, mọi người kéo xuống nhà dưới (basement) hát karaoké.
- Hưng bảo sao? Kara… gì, Thanh không biết.
- Trời, Thanh không biết karaoké là gì à? Có thật không? Cái này có bao năm nay rồi mà? Hưng trợn tròn mắt ra.
Rồi Hưng cắt nghĩa cho Thanh karaoké là gì, sử dụng như thế nào…
- À ra thế. Hay nhỉ? Nhưng mà trước giờ, Thanh muốn hát thì tự đệm nhạc hát và cũng chả mấy khi đi chơi nên thật quê mùa quá. Thanh nói.
Tối hôm đó, Thanh lần đầu tiên làm quen với phát-minh tân tiến mà ai ai cũng biết ngoại trừ Thanh.
Ca ra thì OK, ca không ra cũng vẫn OK, karaoké kỳ diệu ở điểm đó.
Trước khi ra về, Thanh đề-nghị lần sau, Thanh sẽ cố gắng mượn cây đàn keyboard của một người bạn và sẽ đệm nhạc “sống” cho mọi người hát.
Thế là sau đó, mọi người được hát “live”, phần đông ai cũng thích cho nên thành thói quen, mỗi lần Thanh xuống chơi là xách đàn xuống nếu mượn được.

Lần này, 
Thanh phải xuống tay không vì không mượn được đàn, nhưng Hưng có nói là không sao hết, vấn-đề đã được giải-quyết rồi. Hỏi giải-quyết như thế nào thì Hưng chỉ ậm ừ, không trả lời rõ.
Đến nhà Hưng-Trang, chủ nhà mở cửa ra đón, xách hành-lý tay của Thanh lên phòng dành cho cô. Sau đó, mọi người ăn trưa qua loa rồi Hưng lấy xe đi công việc, Thanh và Trang cùng nhau vào bếp sửa soạn cho buổi họp mặt buổi tối. Những buổi như vầy thường được tổ-chức theo lối “potluck”, nghĩa là mỗi cặp khách mang lại một món (tự làm lấy hay đặt mua nếu không có thì-giờ), chủ nhà lo phần chính và rượu nước. Hai cô bạn vừa làm bếp, vừa nói chuyện với nhau thật vui.
Một lúc, Trang hỏi thăm:
- Thế mấy cô con gái Thanh dạo này ra sao rồi?
- Cám ơn Trời Phật, chúng nó học khá, lên lớp đều, ngoan và sức khoẻ tốt, nên Thanh không có gì để lo lắng cả. Bây giờ thì có thể nói là chưa được thái lai nhưng bĩ cực thì coi như đã qua rồi.
- Trang thật là thương và khâm-phục Thanh quá. Trang mừng cho Thanh lắm.
- Chẳng qua mình không có sự lựa chọn nào khác thôi, Trang ơi. Buông xuôi thì hỏng đời mình đã đành nhưng hại luôn đời con mình thì người mẹ nào làm như vậy được? Chứ Trang biết không, thời gian đó quá khổ cực và tủi hổ, đến nỗi mà đi thuê nhà, may mà có cô bạn đồng-nghiệp chịu bảo-lãnh giúp chứ không chủ nhà nào cho mướn? Đúng là “Trời sinh voi, sinh cỏ”, việc gì rồi cũng qua thôi. Thanh kể lại, giọng trầm buồn.
Trang cầm lấy tay Thanh, nói:
- Đúng vậy, Thanh à. Cuộc sống vẫn tiếp-tục, vả lại Thanh còn bạn bè thân thích. Thanh có cần bất cứ gì thì cứ nói, tụi nào làm được gì giúp là sẽ làm ngay, đừng ngại, Thanh nhé?
- Cám ơn Trang, Thanh cảm-động lắm. Bây giờ, Thanh chỉ cần vui sống thôi.
- Ừ, nhưng mà Trang mong sao Thanh sẽ vui sống với một người bạn đời nữa chứ con cái lớn cả rồi, không bao lâu, chúng nó đi cả, ở một mình buồn lắm.
- Thì chính mấy đứa con Thanh cũng nói vậy đó. Nhưng mà mấy mối Trang và bạn bè dưới này giới-thiệu, rốt cuộc rồi cũng không đến đâu. Trên kia, Thanh cũng thử gặp một vài ông nhưng rồi cũng tịt ngòi cả.
- Hay là tại Thanh kén quá chăng? Trang biết Thanh tính nghệ-sĩ lại rất tình cảm nữa, gặp được ai hợp "gu" với mình hơi khó đấy.
- Không biết được. Nhưng mà chuyện vợ chồng đâu phải như đi mua cái áo, mặc không thích thì tìm cái khác đâu? Nói đùa tí cho vui nhưng Thanh tin rằng phải có duyên, có nợ thì mới thành, phải không Trang?
- Ừ, đúng vậy. Thanh đã như chim bị đạn rồi thì chắc chắn là phải kỹ chút thôi. Nhưng Trang tin chắc thế nào Thanh cũng tìm được ý trung nhân mà. Lúc đó, nhớ kể cho Trang biết nhé.
- Trang lại khéo trêu nhé. Được rồi, có gì sẽ cho Trang xem ảnh ngay.
Hai người bạn ôm nhau cười vui vẻ rồi tiếp-tục công việc bếp.


Tối đến, bạn bè đến đông đủ, người mang chả giò, người mang gỏi, người mang trái cây, rượu nước, … và những bàn ăn bắt đầu mang vẻ thịnh soạn lắm.
Mọi người nhập tiệc, ăn uống, trò chuyện, tiếng cười nói rộn vang nhà. Thanh xuống đây, lần này cũng là lần thứ tư rồi nên cũng bắt đầu quen gần hết những bạn ở đây. Cô cảm thấy rất thoải mái, tự-nhiên chứ không còn bỡ ngỡ như những lần đầu nữa. Phần đông, ai nấy đều dễ thương và quí Thanh lắm, một phần có lẽ vì ai cũng thích nghe Thanh hát và học hỏi được nơi Thanh ít nhiều trong lãnh-vực này.
Ăn uống no nê xong, như thường lệ, mọi người lại kéo nhau xuống nhà dưới để bước vào phần văn-nghệ.
Thanh níu vai Hưng, hỏi:
- Tối nay, lại hát karaoke hay như thế nào hả Hưng? Chứ Thanh có mang đàn đâu?
- Thanh đừng lo, cứ xuống đây rồi biết. Hưng mỉm cười nói, nét mặt ra vẻ bí mật.
Mọi người an toạ xong, hai gia-chủ đứng ra nói vài câu cùng quan khách.
- Hai vợ chồng Hưng-Trang xin cám ơn tất cả các anh chị, các bạn đã bỏ chút thời-giờ đến chung vui buổi họp mặt này. Và đặc-biệt tối nay, chúng ta sẽ có một sự bất-ngờ dành cho cô bạn dễ thương của chúng ta là Thanh. Xin mời Thanh bước lên đây.
Thanh không hiểu chuyện gì nhưng cũng lên đứng cạnh Hưng-Trang.
- Thay mặt tất cả mọi người ở đây, Hưng-Trang xin cám ơn Thanh đã gia-nhập Hội Ham Vui vùng DC và đã đem lại cho mọi người bao niềm vui với tiếng đàn, tiếng hát của Thanh, cũng như những lời chỉ dẫn thật quí giá để mọi người được tận hưởng cái thú vui "sướng" ca nhiều loài này. Để nói lên lời cám ơn đó một cách thiết-thực hơn, tất cả mọi người ở đây đã cùng đóng góp vào một món quà cho Thanh.
Nói đến đây, Hưng ra hiệu cho Tuấn và Long. Hai người bước ra, người thì khiêng một cây đàn phím keyboard, người thì xách cái chân đàn, và bắt đầu bố trí vào dàn âm-thanh.
- Bây giờ Thanh có đàn của mình rồi, đi đâu không cần phải đi mượn nữa nhé. Thanh có thích không?
Bàng hoàng trước món quà thật bất ngờ này, Thanh lắp bắp:
- Trời ơi, các anh chị tặng Thanh quà này đắt tiền quá, làm sao Thanh dám nhận?
Tuấn bước ra, tiếp lời Hưng:
- Thanh đừng ngần ngại như vậy. Đây là lòng thành của mọi người đối với những gì Thanh đã đem lại cho mọi người thôi. Bây giờ phải thú thật với Thanh: lần trước, để làm bất ngờ cho Thanh, anh đã phải giả vờ nói là anh muốn mua cho anh một cây đàn và hỏi ý kiến Thanh xem cái nào tốt để anh mua.
- Hoá ra vậy. Thanh nhớ anh có đưa Thanh xem liệt-kê một số đàn và còn cố ý nói “Nếu như Thanh muốn mua cho mình một cây đàn thì Thanh sẽ mua cây nào trong số mấy cây này?” Anh Tuấn mưu mô quá nhé.
Thanh quay lại mọi người, mắt ướm lệ, giọng nói như tắc-nghẽn vì xúc động:
- Các anh chị làm Thanh cảm-động quá, Thanh không biết nói gì, làm gì để cám ơn tấm lòng của anh chị. Cám ơn các anh chị, Thanh cảm thấy mình rất may mắn đã được quen các anh chị…
Rồi Thanh lại ôm từng người, trong lòng ngập tràn xúc cảm, vui buồn lẫn lộn. Hình như Trời Phật đã phải  ra tay xoa dịu những nỗi buồn khổ của Thanh? Thôi thì cứ xem như đã xong, Thanh cứ lật qua một trang mờ tối trong đời và vui sống nhé.


Tối hôm đó, Thanh chơi nhạc như chưa bao giờ.


Yên Hà, tháng 10, 2016


Ở nơi nào em còn nhớ (Thanh Tuyền)

Ở nơi nào em còn nhớ 
Ngô Thuỵ Miên sáng tác
Thanh Tuyền trình bày và đệm nhạc

Please (Ctrl-) click on the link
https://youtu.be/2NBpp0JYJr0
and enjoy.

Je sais (Ngọc Phú)


Je sais (C. François - G. Gustin-V. Buggy)
Voix : Ngọc Phú
Keyboard : Thanh Tuyền

Please (Ctrl-) click on the link

https://youtu.be/IhIDYI32p8w

and enjoy.